Luận văn: Ngữ nghĩa của danh từ đơn vị tiếng việt, HAY, 9đ

Please download to get full document.

View again

of 130
All materials on our website are shared by users. If you have any questions about copyright issues, please report us to resolve them. We are always happy to assist you.
 3
 
  Download luận văn thạc sĩ ngành ngôn ngữ học với đề tài: Ngữ nghĩa của danh từ đơn vị tiếng việt nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận, cho các bạn làm luận văn tham khảo
Share
Transcript
  • 1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Phạm Thị Dĩnh NGỮ NGHĨA CỦA DANH TỪ ĐƠN VỊ TIẾNG VIỆT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
  • 2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Phạm Thị Dĩnh NGỮ NGHĨA CỦA DANH TỪ ĐƠN VỊ TIẾNG VIỆT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN Chuyên ngành : Ngôn ngữ học Mã số : 66 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRỊNH SÂM Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
  • 3. LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành chương trình Cao học và Luận văn này, người viết xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình giảng dạy của quý thầy cô trong tổ bộ môn Ngôn ngữ của khoa Ngữ văn trường Đại học Sư Phạm TP HCM. Người viết xin gửi lời tri ân sâu sắc tới PGS.TS Trịnh Sâm. Thầy đã dành nhiều thời gian định hướng, hướng dẫn, góp ý giúp người viết hoàn thành Luận văn. Ngoài ra, để hoàn thành Luận văn này người viết đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của người thân trong gia đình, quý thầy cô Phòng sau Đại học trường ĐHSP TPHCM, đồng nghiệp và Ban giám hiệu trường THPT Nguyễn An Ninh . Tác giả Phạm Thị Dĩnh
  • 4. MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU.........................................................................................................1 1. Lý do chọn đề tài......................................................................................1 2. Lịch sử nghiên cứu...................................................................................2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................8 4. Phương pháp nghiên cứu và sưu tầm tài liệu ...........................................9 5. Ý nghĩa của đề tài...................................................................................10 6. Bố cục của luận văn................................................................................10 Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN ......................................................................12 1.1. Tổng quan về ngôn ngữ học tri nhận...................................................12 1.1.1. Khái niệm......................................................................................12 1.1.2. Một số xu hướng chính.................................................................13 1.2. Danh từ đơn vị tiếng việt.....................................................................14 1.2.1. Khái niệm......................................................................................15 1.2.2. Vấn đề thuật ngữ..........................................................................16 1.2.3. Phân loại .......................................................................................21 1.2.4. Danh từ đơn vị và danh từ khối trong danh ngữ ..........................26 1.2.5. Đặc điểm của danh từ đơn vị........................................................30 1.3. Tiểu kết................................................................................................43 Chương 2. NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM DANH TỪ ĐƠN VỊ ĐỘNG, THỰC VẬT..................................................................................................44 2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến cách sử dụng DĐV ............................44
  • 5. 2.1.1. Phân định các sự vật theo “chiều” không gian.............................45 2.1.2. Những định hướng không gian khi mô tả sự vật..........................45 2.2. Ngữ nghĩa của DĐV động vật.............................................................47 2.2.1. Danh từ đơn vị động vật lâm thời.................................................47 2.2.2. Danh từ đơn vị động vật chính danh ............................................49 2.3. Ngữ nghĩa của DĐV thực vật..............................................................59 2.3.1. Danh từ đơn vị thực vật lâm thời..................................................59 2.3.2. Danh từ đơn vị thực vật chính danh .............................................62 2.4. Một số nhận xét ...................................................................................82 2.5. Một số ẩn dụ từ DĐV tiếng Việt.........................................................87 2.5.1. Ẩn dụ ............................................................................................87 2.5.2. Ẩn dụ của danh từ đơn vị động, thực vật .....................................89 KẾT LUẬN ..................................................................................................95 TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................98 PHỤ LỤC
  • 6. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DK : danh từ khối DĐV : danh từ đơn vị CL : chất liệu ĐV : đơn vị ĐĐ : đếm được HT : hình thức DND : danh từ đơn vị trội về nội dung DHT : danh từ đơn vị trội về hình thức DTĐVQU : danh từ đơn vị qui ước DT : danh từ DN : danh ngữ (*) : không được chấp nhận, không đúng với cách nói của người Việt ± : thế đối lập có/không
  • 7. DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1: Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa bốn tiêu chí [± đơn vị],[± đếm được], [± hình thức], [± chất liệu]. ...............................................23 Bảng 2: Tiêu chí phân biệt giữa DHT và DND..................................................24 Bảng 3: Bảng phân loại danh từ đơn vị................................................................25 Bảng 4: Bảng nhiệm vụ của trung tâm danh ngữ theo Nguyễn Tài Cẩn......28 Bảng 5: Cấu trúc danh ngữ của Nguyễn Tài Cẩn ..............................................30 Bảng 6: Cấu trúc danh ngữ của Dư Ngọc Ngân.................................................31 Bảng 7: Bảng khảo sát kết quả bầy/đàn trênwww. Google.com.vn..............53 Bảng 8 : Bảng tham tố nghĩa của danh từ đơn vị động vật chính danh.........58 Bảng 9: Các tham tố nghĩa của danh từ đơn vị thực vật ..................................86 Bảng 10: Những cách thức ẩn dụ của danh từ đơn vị động, thực vật .............92
  • 8. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong tiếng Việt, danh từ chiếm một số lượng lớn. Danh từ có nhiều tiểu loại, mỗi tiểu loại có đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ pháp khác nhau. Trong số những tiểu loại danh từ thì danh từ đơn vị là vấn đề rất thú vị nhưng cũng rất phức tạp. Thú vị vì những từ ngữ đó ta thường xuyên sử dụng trong đời sống, trong giao tiếp nhưng theo phản xạ tự nhiên, nay tìm hiểu được ngữ nghĩa - ngữ pháp của chúng, nên từ đó ta có cách sử dụng đúng, sử dụng hay. Phức tạp là bởi vì có quá nhiều quan điểm về danh từ đơn vị, có những quan điểm đối lập nhau, có những vấn đề không dễ dàng giải quyết. Do xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau nên vấn đề thuật ngữ về chúng cũng chưa thống nhất. Mặt khác, trước đây ngôn ngữ học truyền thống khi nghiên cứu về danh từ đơn vị thường quan tâm đến mặt cú pháp hơn là mặt ngữ nghĩa và tri nhận. Ngôn ngữ học tri nhận là một khuynh hướng ngôn ngữ học ra đời vào những năm 80 của thế kỉ XX với nhiệm vụ trung tâm là nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy của con người, nghiên cứu cách con người nhận thức thế giới qua lăng kính ngôn ngữ. Ngôn ngữ học tri nhận đã giúp người viết trả lời những câu hỏi: Vì sao một đơn vị sự vật lại có thể kết hợp được với nhiều danh từ đơn vị khác nhau? Vì sao chọn dùng danh từ đơn vị này mà không dùng danh từ đơn vị khác? Cái gì cho phép ta tập hợp danh từ đơn vị vào những nhóm khác nhau? Từ đó, người viết hiểu được cách thức mà người Việt dùng các danh từ đơn vị để mô tả các thuộc tính không gian của vật thể (như: hình dáng, kích cỡ, tư thế) và từ đó xếp loại chúng. Với hai lí do trên, người viết đã mạnh dạn chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình với hi vọng thông qua góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận ta có thể suy đoán về một cách thức riêng của
  • 9. 2 người Việt trong việc ý niệm hóa, phạm trù hóa, phân loại và mô tả thế giới khách quan. 2. Lịch sử nghiên cứu 2.1 Danh từ đơn vị trong ngôn ngữ học tiền tri nhận Khi nghiên cứu về từ loại tiếng Việt, nhà nghiên cứu Việt ngữ nào cũng dành một phần không nhỏ cho từ loại danh từ. Trong từ loại danh từ, người ta không quên nhắc tới danh từ đơn vị. Từ trước đến nay, danh từ đơn vị được gọi bằng những tên gọi khác nhau: tiền danh từ (Phan Khôi), loại tự (Lê Văn Lý, Trần Trọng Kim, Phạm Tất Đắc), phó danh từ (Nguyễn Kim Thản), loại từ (Nguyễn Tài Cẩn, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Phú Phong), danh từ chỉ loại (Lê Cận, Quang Thiều, Diệp Quang Ban) và danh từ đơn vị (Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Dư Ngọc Ngân, Nguyễn Thị Ly Kha, Lê Ni La). Điều này phản ánh sự phức tạp của loại từ này, đồng thời cũng phản ánh bản chất ngữ nghĩa cú pháp của nó. Đinh Văn Đức cho danh từ đơn vị là hư từ, là lớp từ công cụ rỗng nghĩa, xuất hiện bên cạnh danh từ để phân loại danh từ, cá thể hóa danh từ. Lưu Vân Lăng cho rằng danh từ đơn vị nằm giữa ranh giới hư từ và thực từ, Lê Cận, Phan Thiều, Diệp Quang Ban xem nó là thực từ. Quan niệm về danh từ đơn vị không hoàn toàn đồng nhất. Có bốn khuynh hướng nổi bật sau: 2.1.1. Khuynh hướng thứ nhất Khuynh hướng này không nhắc đến thuật ngữ danh từ đơn vị, xem những từ như cái, chiếc, con, quyển, ngôi… là loại từ, là một từ loại tồn tại độc lập bên cạnh những từ loại khác. Khuynh hướng này cho rằng, về bản chất loại từ là hư từ, chuyên đảm đương chức năng phụ trợ cho danh từ. Loại từ không có ý nghĩa từ vựng, không có khả năng đứng độc lập và chức năng của chúng là cá thể hóa danh từ. Đại diện tiêu biểu của khuynh hướng này
  • 10. 3 có thể nhắc đến Phạm Tất Đắc, Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Lê Văn Lý, Nguyễn Kim Thản… Phạm Tất Đắc, Trần Trọng Kim gọi danh từ đơn vị là loại tự. Cả hai ông đều định nghĩa “loại tự là tiếng đặt trước một danh tự để chỉ danh tự ấy thuộc về loại nào”[14, tr26; 25, tr45]. Hai tác giả này chia loại tự thành loại tự chung (gồm con và cái) và loại tự riêng (vốn là những danh tự dùng để chỉ một loại, một giống, một hạng như chim bồ câu, chim chích chòe, chim sáo; người thợ nề, người bù nhìn, người tài xế…). Có thể thấy hai tác giả này đưa ra danh sách loại từ quá ít ỏi và có những quan niệm nhầm lẫn. Ví dụ như các từ hoa (sen), hoa (đào), hoa (cúc), cá (thu), cá (rô), cá (trê)…cũng được hai ông xem là loại tự. Theo Nguyễn Tài Cẩn, những từ như “hoa sen”, “lá chuối”, “hột dưa” “đều là những từ tổ bình thường, đặt theo quan hệ chính phụ. Yếu tố đầu bao giờ cũng là một danh từ chỉ sự vật, còn giữ nguyên nghĩa gốc của chúng, đúng như khi chúng dùng một mình” [3, tr.194]. Trong tác phẩm “Sơ thảo về ngữ pháp Việt Nam”, Lê Văn Lý cho rằng từ loại tiếng Việt gồm: tự loại A (danh tự), tự loại B (động tự), tự loại B, (tĩnh tự), tự loại C1 (ngôi tự), tự loại C2 (số tự), tự loại C3 (phụ tự). Theo đó ông đưa ra định nghĩa về loại tự như sau: “loại tự là những chứng tự của tự loại A; chúng cho phép ta nhận định được những tự ngữ nào thuộc tự loại A và đồng thời chúng cũng xếp những tự ngữ đó vào một loại riêng biệt”. [35, tr.50]. Ông chia loại tự thành ba tiểu loại: loại tự cho những danh tự chỉ người, loại tự cho những danh tự chỉ loài vật và loại tự cho những danh tự chỉ sự vật. Bỏ qua bước xác định tiêu chí nhận diện loại từ, ông liệt kê 171 loại từ và miêu tả cụ thể cách dùng chúng. Không dùng thuật ngữ loại từ nhưng Nguyễn Kim Thản trong tác phẩm “Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt” cũng tán đồng quan điểm này. Ông cho rằng những từ như bài, bản, bông, bức, cái, chiếc, con, đứa, tấm…là phó
  • 11. 4 danh từ, luôn đứng phụ cho danh từ, có tác dụng chỉ sự vật riêng lẻ, chỉ đơn vị tự nhiên, nằm giữa ranh giới hư từ và thực từ. Ông định nghĩa “Phó danh từ là những từ chỉ đơn vị tự nhiên của sự vật, phục vụ cho danh từ để cá thể hóa sự vật và có những khả năng kết hợp như danh từ” [47, tr167]. Ông cho rằng: “công dụng ngữ pháp chủ yếu của phó danh từ là làm công cụ ngữ pháp để cá thể hóa danh từ, nghĩa là làm một thứ trợ phụ từ. Song, phó danh từ còn có khả năng thay thế cho danh từ”. Tuy nhiên chính ông cũng thừa nhận điểm chưa ổn trong quan niệm của mình “Gọi là phó danh từ thì nói chung có thể được nhưng khi chúng chỉ đơn vị động tác thì lại không đủ, bởi vì chúng không làm phó cho danh từ nào cả (ví dụ: tát một cái)” [47, tr165] 2.1.2. Khuynh hướng thứ hai Khuynh hướng này cho rằng danh từ đơn vị và loại từ hoàn toàn khác nhau. Đại diện tiêu biểu của khuynh hướng này là Lưu Vân Lăng và Nguyễn Phú Phong. Lưu Vân Lăng cho rằng “Khi đứng trước một danh từ khác, một số danh từ đơn vị đã mất đi một phần nội dung ngữ nghĩa, chỉ còn lại một phần có tác dụng xác định chủng loại và đơn vị của danh từ đặt sau, nên mới chuyển thành loại từ. Như vậy nó không còn là danh từ đơn vị nữa. Do đó loại từ nhất thiết phải đứng trước danh từ” [32, tr.139]. Danh từ đơn vị, theo ông, phải vừa có “nội dung” vừa có “hình thức”, đứng ở vị trí trung tâm danh ngữ, kết hợp với lượng từ, loại từ, chỉ định từ,…đảm nhận chức năng cú pháp như đề ngữ, bổ ngữ; còn loại từ chỉ là một nhóm nhỏ trong hạn từ, chuyên làm thành tố phụ cho hạt nhân danh từ. Nó không thể một mình làm thành tố cú pháp, giữ riêng một chức năng cú pháp, mà chỉ có thể cùng với danh từ hạt nhân đứng sau đảm nhận chung một chức năng cú pháp nào đó. Ông đề nghị: đưa loại từ ra khỏi danh từ, coi nó là một loại phụ từ chuyên hạn định cho hạt nhân danh từ. Vì danh từ đơn vị chủ yếu định lượng còn loại từ chủ yếu định tính, định loại.
  • 12. 5 Nguyễn Phú phong cho rằng “loại từ phải được xem như là định từ của danh từ, một định từ mà chức năng định lượng là chính vì nó bất biến, còn chức năng gia nghĩa cho danh từ thì phụ, phụ với ý nghĩa là một biến số có thể đi từ zerô đến “đầy” [41, tr.13]. Dựa vào chức năng định đơn vị của loại từ, ông quan niệm “những từ nào biểu đạt một khái niệm phân lập có thể đếm được đều có thể sử dụng làm loại từ” [41, tr.13] 2.1.3. Khuynh hướng thứ ba Khuynh hướng này thừa nhận thuật ngữ danh từ đơn vị và cho rằng loại từ là một tiểu loại nằm trong nhóm này. Trong tác phẩm “Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại”, Nguyễn Tài Cẩn đã khảo sát rất kĩ danh từ đơn vị. Theo ông, “trong số những danh từ chung không tổng hợp, trước hết cần phải tách những kiểu như “chiếc, đứa, con, cây, thước, cân, xu, giờ, miếng, đàn, tá, lần, lượt…thành một tiểu loại riêng. Đây là tiểu loại danh từ dùng để chỉ đơn vị đo lường, đơn vị tính toán” [3, tr.17]. Ông cho rằng loại từ là một tiểu loại của danh từ đơn vị “Trong danh từ đơn vị, trước hết cần phải kể đến nhóm thường được gọi là loại từ. Đây là một nhóm không có ý nghĩa từ vựng rõ ràng và chuyên dùng để phục vụ việc đếm thành từng cá thể, thành từng đơn vị tự nhiên của sự vật cũng như phục vụ việc phân chia sự vật vào các loại” [3, tr.123]. Loại từ được ông xếp vào hệ thống công cụ từ để dạng thức hóa danh từ “Nói đến các công cụ từ dùng để dạng thức hóa danh từ và diễn đạt các phạm trù ngữ pháp của từ loại này, trước hết phải kể đến nhóm mà ta quen gọi là nhóm loại từ”. [3, tr.187] Lê Ni La dùng tiêu chí [± đơn vị] phân chia danh từ tiếng Việt thành danh từ khối và danh từ đơn vị. Tác giả tiếp tục dùng tiêu chí [± chất liệu] để phân loại danh từ đơn vị thành hai loại: danh từ đơn vị có tính trội về nội dung và danh từ đơn vị hình thức thuần túy. Tác giả cho rằng “theo quan điểm của chúng tôi, những từ vốn quen được gọi là loại từ là một mảng của
  • 13. 6 DĐV hình thức thuần túy, chỉ đơn vị các đối tượng tự nhiên (phân biệt với các đối tượng khác: hành động, thời gian, không gian, trạng thái, quá trình, tính chất). Vì vậy, cách gọi DĐV tự nhiên trước đây rất thích hợp với loại từ” [29, tr.73]. 2.1.4. Khuynh hướng thứ tư Khuynh hướng này cho rằng thuật ngữ loại từ không tồn tại, đó chỉ là một chức năng nghĩa học, xem danh từ đơn vị là một tiểu loại của danh từ. Tác giả tiêu biểu của khuynh hướng này gồm Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thị Ly Kha… Nguyễn Tài Cẩn không có sự phân biệt rạch ròi giữa loại từ và danh từ đơn vị nữa mà gọi chung là danh từ đơn vị “trong tiếng Việt, còn có những từ chỉ đơn vị qui ước như tấn, tạ, cân, lạng, thước, tấc, lít, đoàn, dãy, mớ, miếng…chúng không tồn tại riêng rẽ như ở nhiều ngôn ngữ khác mà tồn tại song song với các từ chỉ đơn vị tự nhiên như anh, ông, con, cái, cuốn, bức…Trong tiếng Việt, cả hai nhóm đó đều tập hợp lại với nhau, tạo thành một loại lớn gọi chung là những từ chỉ đơn vị” [4, tr.209]. Theo ông, danh từ đơn vị là một trong hai thành tố trung tâm của đoản ngữ có danh từ làm trung tâm “T1 (chỉ danh từ đơn vị) là trung tâm chỉ về đơn vị đo lường; T2 là trung tâm chỉ về sự vật được đem ra kế toán đo lường. T1 nêu chủng loại khái quát, T2 nêu sự vật cụ thể. T1 là trung tâm về mặt ngữ pháp, T2 là trung tâm về mặt ý nghĩa từ vựng. Đứng về mặt liên hệ với thực tế mà xét, T2 có phần quan trọng hơn; nhưng đứng về mặt tìm hiểu quy tắc ngôn ngữ mà xét thì T1 có phần quan trọng hơn.” Cao Xuân Hạo là người đã quyết liệt chỉ ra sai lầm của các nhà nghiên cứu khi sử dụng thuật ngữ “loại từ”. Ông cho rằng “trong lịch sử ngôn ngữ học, thuật ngữ “loại từ” là sản phẩm của một sự hiểu lầm vĩ đại” [19, tr.380]. Theo ông, danh từ khối là một thứ khối chưa phân lượng cho nên thường đi với “loại từ” vốn có tác dụng phân lượng cái khối ấy ra. Thuật ngữ
  • 14. 7 “loại từ” lẽ ra dùng cho những danh từ khối như bò, sách thì phải hơn vì trong danh ngữ con bò, bò là định ngữ cho biết các đơn vị động vật thuộc chủng loại nào. Ông đưa ra định nghĩa về danh từ đơn vị (count nouns) “danh từ đơn vị là những danh từ chỉ những hình thức tồn tại của những thực thể phân lập trong không gian, trong thời gian hay trong một chiều nào khác được hình dung như giống với không gian, có thể được tri giác tách ra khỏi bối cảnh và khỏi các thực thể khác” [19, tr.392]. Với tiêu chí [± đếm được], ông đã phân danh từ đơn vị thành hai loại: các danh từ hình thức thuần túy (205 từ) và danh từ vừa có thuộc tính nội dung vừa có hình thức tồn tại phân lập (225 từ). (Xem bảng ở phần Phụ lục 2) Trong luận án tiến sĩ, Nguyễn Thị Ly Kha đã dùng tiêu chí [± đơn vị] để tăng thêm thế đối lập giữa danh từ đơn vị và danh từ khối. Tác giả cho rằng “danh từ đơn vị là loại danh từ biểu thị hình thức tồn tại của thực thể hoặc biểu thị những sự vật được ngôn ngữ đối xử như những thực thể phân lập, có kích thước xác định, có thể phân lượng hóa được, dùng để chỉ đơn vị của thực thể, chuyên đảm đượng chức năng thành tố chính trong cấu trúc danh ngữ” [23, tr42]. Với tiêu chí [± đơn vị] tác giả đã chia danh từ đơn vị thành hai loại: danh từ đơn vị có tính trội về hình thức (gồm 405 từ) và danh từ đơn vị có tính trội về nội dung (gồm 449 từ). (Xem bảng ở phần Phụ lục 3) Có thể nói, dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tiền tri nhận, các nhà nghiên cứu có những quan điểm chưa thống nhất và những vấn đề tranh cãi của danh từ đơn vị xoay quanh địa hạt ngữ pháp. 2.2. Danh từ đơn vị trong ngôn ngữ học tri nhận Ngôn ngữ học tri nhận là một xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ mới, được nhiều nhà Việt ngữ quan tâm. Những đề tài về ngôn ngữ học tri nhận được đăng tải trên Tạp chí Ngôn ngữ cũng được người đọc tìm tòi học hỏi nhằm có thêm những hiểu biết sâu sắc cho luận văn. Có thể kể đến “Khảo
  • 15. 8 luận ẩn dụ tri nhận” của Trần Văn Cơ [8], “Dòng sông và cuộc đời” (tri nhận của người Việt về sông nước) của Trịnh Sâm [4], “Ngôn ngữ học tri nhận là gì?” của Trần Văn Cơ [5], “Cảm nhận và suy nghĩ về tầm nhìn kinh điển trong hướng đi của ngôn ngữ học tri nhận” của Nguyễn Lai [28], “Về khuynh hướng ngôn ngữ học tri nhận” của Lê Quang Thiêm [50], “Tri nhận thời gian trong tiếng Việt” của Nguyễn Đức Dân [11]… Dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, danh từ đơn vị càng được khám phá đầy đủ hơn. Tác phẩm “Ngôn ngữ học tri nhận từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt” của tác giả Lý Toàn Thắng đã có những chương nghiên cứu sâu sắc về danh từ đơn vị. Tác giả đã đưa ra những cách mô tả danh từ đơn vị theo đặc trưng “chiều” không gian, những định hướng không gian khi mô tả sự vật. Theo tác giả, “loại từ ẩn chứa trong nó một cách nhìn, một cách tri nhận về sự vật ấy” [49, tr.303] và những sự kiện về nghĩa và cách dùng của các loại từ và các danh
  • Related Search
    We Need Your Support
    Thank you for visiting our website and your interest in our free products and services. We are nonprofit website to share and download documents. To the running of this website, we need your help to support us.

    Thanks to everyone for your continued support.

    No, Thanks
    SAVE OUR EARTH

    We need your sign to support Project to invent "SMART AND CONTROLLABLE REFLECTIVE BALLOONS" to cover the Sun and Save Our Earth.

    More details...

    Sign Now!

    We are very appreciated for your Prompt Action!

    x